KẾ TOÁN SÁNG NGUYỄN

CHUYÊN NHẬN LÀM DỊCH VỤ KẾ TOÁN VÀ DẠY THỰC HÀNH KẾ TOÁN ONLINE VÀ OFFLINE

Bạn nào muốn học kế toán của thầy Sáng Nguyễn thì kết bạn zalo số của thầy 03865.99999 nhé. Khi kết bạn nhắn tin "Em muốn học kế toán"

Sáng Nguyễn 03865.99999

Chỉ tư vấn khóa học qua zalo 03865.99999

6 vấn đề kế toán và thuế cần nắm. Lưu ý thuế ngày 20/07/2026

6 vấn đề kế toán và thuế cần nắm. Lưu ý thuế ngày 20/07/2026

6 vấn đề kế toán và thuế cần nắm

Trong quá trình làm kế toán, có những vấn đề nhìn qua tưởng đơn giản nhưng nếu xử lý không đúng bản chất thì số liệu kế toán, tờ khai thuế và báo cáo tài chính có thể bị sai lệch.

Các lưu ý kế toán ngày 20/07/2026 tập trung vào 6 nội dung thường gặp: xác định thời gian khấu hao tài sản cố định cũ, sử dụng Tài khoản 1383 theo Thông tư 99, kê khai hóa đơn hàng bán trả lại và chiết khấu thương mại, tính giá thành tại doanh nghiệp khai thác khoáng sản và xử lý chỉ tiêu 43 khi kê khai bổ sung thuế GTGT.

1. Cách xác định thời gian khấu hao của tài sản cố định đã qua sử dụng

Khi doanh nghiệp mua hoặc nhận một tài sản cố định đã qua sử dụng, kế toán không áp dụng nguyên thời gian khấu hao của tài sản mới.

Thời gian trích khấu hao của tài sản cố định đã qua sử dụng được xác định theo công thức:

Thời gian khấu hao TSCĐ cũ = Giá trị hợp lý của TSCĐ tại thời điểm ghi tăng / Giá bán của TSCĐ cùng loại mới 100% × Thời gian khấu hao của TSCĐ mới cùng loại

Thời gian khấu hao của tài sản mới cùng loại được lựa chọn trong khung thời gian trích khấu hao tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 45/2013/TT-BTC. Thông tư 45 đã được sửa đổi, bổ sung và tiếp tục có hiệu lực theo công bố của Bộ Tài chính.

Ví dụ xác định thời gian khấu hao tài sản cũ

Công ty mua một máy sản xuất đã qua sử dụng với giá trị hợp lý tại thời điểm ghi tăng là 600 triệu đồng.

Giá bán của máy cùng loại mới 100% trên thị trường là 1,2 tỷ đồng. Công ty lựa chọn thời gian khấu hao của máy mới là 10 năm, phù hợp với khung khấu hao theo quy định.

Thời gian khấu hao của máy cũ được xác định như sau:

600 triệu đồng / 1,2 tỷ đồng × 10 năm = 5 năm.

Như vậy, công ty thực hiện trích khấu hao tài sản trong thời gian 5 năm.

Kế toán cần lưu hồ sơ chứng minh giá trị hợp lý của tài sản, giá bán tài sản mới cùng loại hoặc tài sản tương đương và căn cứ lựa chọn thời gian khấu hao. Không nên tự xác định thời gian khấu hao chỉ dựa vào số năm doanh nghiệp dự kiến sử dụng tài sản.

2. Sử dụng Tài khoản 1383 đối với thuế tiêu thụ đặc biệt của hàng nhập khẩu

Thông tư 99/2025/TT-BTC bổ sung Tài khoản 1383 – Thuế tiêu thụ đặc biệt của hàng nhập khẩu.

Tài khoản này dùng để phản ánh số thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp ở khâu nhập khẩu mà doanh nghiệp được khấu trừ hoặc được hoàn theo quy định của pháp luật thuế.

Thông tư 99 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 và áp dụng đối với năm tài chính bắt đầu từ hoặc sau ngày 01/01/2026.

Đối với khoản thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu nhập khẩu đủ điều kiện được khấu trừ hoặc hoàn, kế toán ghi nhận:

Nợ TK 1383 – Thuế TTĐB của hàng nhập khẩu
Có TK 3332 – Thuế tiêu thụ đặc biệt.

Khi nộp thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu nhập khẩu:

Nợ TK 3332
Có TK 111, 112.

Khi số thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp ở khâu nhập khẩu được khấu trừ với thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp ở khâu bán ra:

Nợ TK 3332
Có TK 1383.

Việc sử dụng Tài khoản 1383 giúp tách riêng khoản thuế tiêu thụ đặc biệt có khả năng được khấu trừ hoặc hoàn, thay vì đưa ngay vào giá gốc hàng tồn kho hoặc nguyên giá tài sản cố định.

Không phải mọi khoản thuế TTĐB nhập khẩu đều ghi vào TK 1383

Đây là điểm kế toán cần đặc biệt chú ý.

Chỉ phần thuế tiêu thụ đặc biệt của hàng nhập khẩu được khấu trừ hoặc được hoàn mới ghi nhận vào Tài khoản 1383.

Nếu khoản thuế tiêu thụ đặc biệt không thuộc trường hợp được khấu trừ hoặc hoàn thì kế toán vẫn phải xác định việc tính vào giá gốc hàng tồn kho, nguyên giá tài sản cố định hoặc chi phí có liên quan theo bản chất nghiệp vụ.

Vì vậy, không nên hiểu rằng từ khi áp dụng Thông tư 99, toàn bộ thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu nhập khẩu đều không được tính vào giá gốc.

3. Kê khai hóa đơn hàng bán trả lại và chiết khấu thương mại

Đối với hóa đơn phát sinh do hàng bán bị trả lại hoặc do chiết khấu thương mại, kế toán cần phân biệt với trường hợp hóa đơn ban đầu bị lập sai.

Về nguyên tắc kê khai:

  • Bên bán kê khai hóa đơn vào kỳ phát sinh, lập hóa đơn điều chỉnh.
  • Bên mua kê khai vào kỳ nhận được hóa đơn điều chỉnh.

 

Ví dụ về hóa đơn hàng bán trả lại

Tháng 7/2026, Công ty A bán hàng và xuất hóa đơn cho Công ty B.

Đến tháng 12/2026, Công ty B phát hiện một phần hàng hóa không đạt chất lượng và trả lại. Công ty A nhận lại hàng và lập hóa đơn điều chỉnh giảm trong tháng 12/2026.

Khi đó:

  • Công ty A kê khai hóa đơn điều chỉnh giảm vào kỳ thuế tháng 12 hoặc quý IV/2026, tùy thuộc công ty kê khai thuế theo tháng hay theo quý.
  • Công ty B kê khai điều chỉnh giảm thuế GTGT đầu vào vào kỳ nhận được hóa đơn điều chỉnh.

Hai bên không quay lại kê khai bổ sung kỳ tháng 7/2026 chỉ vì việc trả lại hàng phát sinh vào tháng 12.

Đối với chiết khấu thương mại

Nếu khoản chiết khấu thương mại được xác định căn cứ vào doanh số hoặc sản lượng mua hàng trong một khoảng thời gian, doanh nghiệp có thể:

  • Điều chỉnh khoản chiết khấu trên hóa đơn của lần mua cuối cùng hoặc kỳ mua tiếp theo; hoặc
  • Lập hóa đơn điều chỉnh riêng cho khoản chiết khấu thương mại và kèm theo bảng kê các hóa đơn liên quan.

Bên bán và bên mua thực hiện kê khai căn cứ vào hóa đơn điều chỉnh được lập

4. Không kê khai bổ sung kỳ gốc nếu kỳ gốc không có sai sót

Hóa đơn hàng bán trả lại và hóa đơn chiết khấu thương mại thường phát sinh sau thời điểm giao dịch bán hàng ban đầu.

Đây là một sự kiện kinh tế phát sinh sau, không phải do kế toán kê khai sai hóa đơn gốc.

Do đó, kế toán không kê khai bổ sung kỳ gốc chỉ vì sau đó:

  • Khách hàng trả lại toàn bộ hoặc một phần hàng hóa;
  • Doanh nghiệp xác định khoản chiết khấu thương mại cuối kỳ;
  • Hai bên phát sinh điều chỉnh giá theo thỏa thuận sau bán hàng.

Kê khai bổ sung kỳ gốc chỉ được thực hiện khi hồ sơ khai thuế của kỳ đó thực sự có sai sót, chẳng hạn như kê khai thiếu hóa đơn đầu ra, kê khai sai doanh thu, sai thuế suất, sai số tiền thuế hoặc bỏ sót nghĩa vụ thuế.

Điểm cần phân biệt là:

Hóa đơn điều chỉnh do nghiệp vụ kinh tế phát sinh sau không đồng nghĩa với kỳ gốc đã kê khai sai.

Nếu không phân biệt rõ hai trường hợp này, kế toán rất dễ quay lại sửa hàng loạt tờ khai cũ trong khi bản chất không phát sinh sai sót tại kỳ gốc.

5. Công ty khai thác khoáng sản phải tập hợp chi phí và tính giá thành

Doanh nghiệp khai thác khoáng sản không đơn thuần là doanh nghiệp mua hàng về bán lại.

Quá trình khoan, nổ mìn, bóc đất đá, khai thác, vận chuyển nội bộ, nghiền, sàng, tuyển và chế biến đã tạo ra các sản phẩm khoáng sản có thể bán ra thị trường. Vì vậy, về bản chất kế toán, doanh nghiệp phải tổ chức tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành tương tự doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.

Tùy vào quy trình thực tế, các khoản chi phí có thể bao gồm:

  • Nguyên vật liệu, nhiên liệu, thuốc nổ và vật tư phục vụ khai thác;
  • Tiền lương và các khoản liên quan đến người lao động trực tiếp;
  • Khấu hao máy xúc, máy đào, máy nghiền và thiết bị khai thác;
  • Chi phí sửa chữa máy móc;
  • Chi phí bóc đất đá, vận chuyển trong khu vực khai thác;
  • Chi phí sản xuất chung tại mỏ;
  • Các khoản thuế, phí và nghĩa vụ liên quan được tính vào chi phí sản xuất theo quy định.

Chi phí cần được tập hợp theo từng mỏ, từng công đoạn hoặc từng nhóm sản phẩm. Trường hợp một quá trình khai thác đồng thời tạo ra nhiều loại sản phẩm như đá hộc, đá 1×2, đá 4×6, đá mi hoặc đất san lấp, doanh nghiệp phải xây dựng tiêu thức phân bổ chi phí chung phù hợp.

Những sai sót thường gặp tại công ty khai thác khoáng sản

Sai sót phổ biến là đưa toàn bộ chi phí khai thác phát sinh trong kỳ vào giá vốn hàng bán, mặc dù một phần khoáng sản vẫn còn tồn kho hoặc chưa hoàn thành công đoạn chế biến.

Cách làm này có thể khiến:

  • Giá vốn hàng bán bị ghi nhận cao hơn thực tế;
  • Giá trị hàng tồn kho bị thiếu;
  • Lợi nhuận giữa các kỳ bị sai lệch;
  • Không xác định được giá thành của từng loại khoáng sản;
  • Khó giải trình khi cơ quan thuế kiểm tra định mức và tỷ lệ tiêu hao.

Kế toán cần theo dõi sản lượng khai thác thực tế, sản lượng nhập kho, sản lượng tiêu thụ và sản lượng tồn cuối kỳ. Các số liệu này phải đối chiếu được với hồ sơ mỏ, nhật trình máy, phiếu cân, hóa đơn bán hàng, hồ sơ thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường.

6. Kê khai bổ sung làm thay đổi chỉ tiêu 43 thì không sửa lại chỉ tiêu 22 của các kỳ sau

Chỉ tiêu 43 trên tờ khai thuế GTGT phản ánh số thuế GTGT đầu vào còn được khấu trừ chuyển sang kỳ sau.

Chỉ tiêu 22 của kỳ tiếp theo được lấy từ chỉ tiêu 43 trên tờ khai của kỳ trước liền kề.

Tuy nhiên, khi doanh nghiệp kê khai bổ sung một kỳ cũ làm thay đổi chỉ tiêu 43, kế toán không quay lại sửa dây chuyền chỉ tiêu 22 của toàn bộ các kỳ phía sau.

Phần chênh lệch do kê khai bổ sung được điều chỉnh trên tờ khai thuế GTGT của kỳ hiện tại:

  • Ghi vào chỉ tiêu 37 nếu làm giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ;
  • Ghi vào chỉ tiêu 38 nếu làm tăng số thuế GTGT còn được khấu trừ.

Cơ quan thuế cũng hướng dẫn rằng khi khai bổ sung làm tăng hoặc giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ chuyển kỳ sau thì phần chênh lệch được kê khai tại chỉ tiêu 37 hoặc 38 của kỳ phát hiện.

Ví dụ điều chỉnh giảm số thuế được khấu trừ

Tờ khai thuế GTGT quý I/2026 ban đầu có:

Chỉ tiêu 43: 300 triệu đồng.

Sang quý II/2026, kế toán đã chuyển đúng 300 triệu đồng vào chỉ tiêu 22.

Đến tháng 7/2026, công ty phát hiện sai sót và lập tờ khai bổ sung quý I/2026. Sau khi bổ sung, chỉ tiêu 43 của quý I chỉ còn 250 triệu đồng.

Số thuế GTGT còn được khấu trừ giảm:

300 triệu đồng – 250 triệu đồng = 50 triệu đồng.

Kế toán không sửa lại chỉ tiêu 22 trên tờ khai quý II từ 300 triệu đồng xuống còn 250 triệu đồng.

Thay vào đó, công ty kê khai 50 triệu đồng vào chỉ tiêu 37 trên tờ khai thuế GTGT của kỳ hiện tại.

Ví dụ điều chỉnh tăng số thuế được khấu trừ

Nếu sau khi kê khai bổ sung, chỉ tiêu 43 tăng từ 300 triệu đồng lên 340 triệu đồng thì phần tăng thêm là 40 triệu đồng.

Doanh nghiệp kê khai 40 triệu đồng vào chỉ tiêu 38 của kỳ hiện tại.

Lưu ý thêm

Cách xử lý trên áp dụng đối với trường hợp khai bổ sung chỉ làm thay đổi số thuế GTGT còn được khấu trừ chuyển kỳ sau.

Nếu khai bổ sung làm tăng số thuế phải nộp thì doanh nghiệp còn phải xác định số thuế nộp bổ sung và tiền chậm nộp theo quy định. Không được chỉ đưa phần chênh lệch vào chỉ tiêu 37 hoặc 38 rồi coi như đã hoàn thành nghĩa vụ khai bổ sung.

Kết luận

Các lưu ý kế toán ngày 20/07/2026 cho thấy kế toán không chỉ cần nhớ tài khoản hoặc chỉ tiêu trên tờ khai mà phải hiểu đúng bản chất của từng nghiệp vụ.

Tài sản cũ phải xác định lại thời gian khấu hao theo tỷ lệ giá trị hợp lý. Thuế tiêu thụ đặc biệt nhập khẩu được khấu trừ hoặc hoàn phải theo dõi qua Tài khoản 1383. Hàng bán trả lại và chiết khấu thương mại được kê khai theo kỳ phát sinh hóa đơn điều chỉnh, không tự động quay lại sửa kỳ gốc.

Đối với công ty khai thác khoáng sản, kế toán phải tổ chức tính giá thành như một doanh nghiệp sản xuất. Khi tờ khai bổ sung làm thay đổi chỉ tiêu 43, phần chênh lệch được đưa vào chỉ tiêu 37 hoặc 38 của kỳ hiện tại, không sửa dây chuyền chỉ tiêu 22 của các kỳ sau.

Hiểu đúng ngay từ bản chất sẽ giúp kế toán hạn chế việc sửa sổ, sửa tờ khai nhiều lần và giảm đáng kể rủi ro khi quyết toán thuế.

Nguồn bài viết: Sáng Nguyễn

Thầy đang có khóa kế toán. Nếu em quan tâm em kết bạn zalo số 0386599999 của thầy nhé. Khi kết bạn em nhắn tin “Em muốn học kế toán”

Một bình luận

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *